Tủ sách Tuổi Trẻ
11/05/2012 08:34
Nghiệt ngã và thành công kỳ 1
Nghiệt ngã và thành công kỳ 1: Từ phát súng người cha bắn vào đầu con trai…
TTM – Từ hôm nay, TTM khởi đăng cuốn tự truyện Nghiệt ngã và thành công của nhà tỉ phú Vikrom Kromadit. Vikrom là nhà sáng lập Khu công nghiệp Amata hoạt động ở TP Biên Hòa, Đồng Nai. Ông đã phát hành 12 cuốn sách với giá rất rẻ ở Thái Lan (1 USD) chuyên chia sẻ bài học kinh nghiệm về cuộc sống với thế hệ sau.
Sách do Công ty Trí Việt - First News phát hành. Mời bạn đón đọc.
Lời giới thiệu
Làm người như bạn và tôi, không ai có quyền chọn nơi mình sinh trưởng. Vì vậy ta không nên than phiền làm gì khi nhận thấy mình đã sinh vào một gia đình không như ý muốn. Điều quan trọng là ta phải biết lập chí, nhằm đạt được một mục tiêu mà ta cho là cao đẹp trong đời bằng sự phấn đấu kiên cường và bằng những phương cách hợp tình hợp lý… hướng đến mục tiêu.
Cuốn sách mà bạn đang cầm trên tay là câu chuyện thật về thời trai trẻ của một người, ông Vikrom Kromadit - dù sinh trưởng trong một gia đình không mấy hạnh phúc nhưng đã trở nên giàu có và thành danh tại đất nước Thái Lan, người đã làm tôi cảm phục và nhận lời đi theo làm cố vấn khi ông khởi sự việc đầu tư xây dựng Khu Công nghiệp Amata tại tỉnh Đồng Nai, Việt Nam… Tôi vẫn còn nhớ rất rõ dù 20 năm đã trôi qua, khi tôi hỏi “vì sao anh lại chọn đầu tư vào Khu Công nghiệp”, ông đã trả lời “ngoài việc kiếm lời mà bất cứ nhà kinh doanh nào cũng nhắm đến, tôi muốn góp phần phát triển kinh tế và mang lại cuộc sống tốt lành hơn cho người dân… của địa phương, nơi tôi xây dựng Khu Công nghiệp”. Tôi cảm phục và nhận lời có lẽ một phần cũng vì tôi vốn chủ trương xây dựng Khu (hay Đô thị) Công nghiệp là phương cách hữu hiệu nhất để Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đất nước…, dù lúc ấy tôi chưa biết nhiều về con người ông.
Thấm thoát mà gần 20 năm đã trôi qua… Tôi bắt đầu các chuyến công tác vào Việt Nam với ông từ giữa năm 1992, xin được giấy phép xây dựng Khu Công nghiệp Amata cuối năm 1994, và rồi cuối cùng tôi trở về nước, trực tiếp trông coi KCN Amata ngay sau khi rời Viện Công nghệ Châu Á (AIT), nơi tôi theo học rồi trở thành một Giáo sư suốt 30 năm… Qua những chuyến đi và nhiều lần trao đổi tâm sự, tôi có dịp quan sát và hiểu ông nhiều hơn. Và cũng chính vì thế, tôi tin chắc rằng những điều mà cuốn sách kể lại là những chuyện thật, thật cho đến não lòng khi ngay chuyện cha con bắn nhau vẫn được kể lại khá tường tận…
Bạn đã có dịp làm quen với con đường làm nên sự nghiệp của ông Vikrom qua quyển sách Tay không gây dựng cơ đồ xuất bản năm 2009. Với cuốn sách này, bạn sẽ thấy ông luôn luôn nghĩ đến cách làm giàu ở mọi hoàn cảnh và khi có cơ hội là ông chụp lấy ngay… Qua những tình huống kể lại trong sách, tôi hy vọng bạn sẽ rút tỉa được một số bài học cũng như ghi nhận ý hướng trở thành người tốt hơn cho mình và cho mọi người của ông. Tôi cũng hy vọng là trên cơ sở đó, bạn sẽ lập chí, tạo lập mục tiêu cho đời mình và tìm được phương cách thích hợp với tài năng và hoàn cảnh của chính bạn để đạt được mục đích đó.
Tôi xin bạn là chỉ nên nghĩ đến các phương cách hợp tình, hợp lý để đạt được mục đích… Và nếu chẳng may, bạn không đạt được mục đích 100% như ý muốn, thì tôi cũng xin bạn chẳng nên buồn làm gì vì bạn đã thật sự nỗ lực hết sức mình… Bởi với sự nỗ lực phấn đấu như thế, giá trị của con người bạn đã được nâng lên nhiều lần rồi đó. Nhưng thật ra thì tôi vẫn tin là bạn sẽ thành công như ý… và lúc nào bạn cũng nghĩ đến những người không được may mắn như mình…
GSTS. Huỳnh Ngọc Phiên
Tổng Giám Đốc Công Ty CP Amata Việt Nam
Nguyên Hiệu Trưởng Trường Công Nghệ Tân Tiến, AIT
![]() |
Lời nói đầu
Cuốn sách “Nghiệt ngã và thành công” xuất bản lần đầu vào năm 2004, đến nay đã phát hành hơn 300.000 cuốn. Mỗi lần tái bản, tôi đều cố gắng bổ sung, điều chỉnh nội dung lẫn hình thức để sách hoàn thiện hơn. Từ tận đáy lòng, tôi mong mỗi trang của cuốn sách này sẽ làm bạn thích thú và giúp bạn rút ra những bài học hữu ích cho công việc, cuộc sống riêng của mình.
Ngoài mong muốn soi lại mình, ôn lại những câu chuyện thực trong quá khứ, sẻ chia những ước nguyện về tương lai; một yếu tố quan trọng khác thôi thúc tôi quyết tâm tập trung thời gian, sức lực và cả tình cảm cho cuốn sách này chính là sự hưởng ứng và phản hồi tích cực của bạn đọc. Trong vòng 3 năm cuốn sách đến với công chúng, tôi nhận được gần 9.000 bức thư và email của bạn đọc khắp nơi chia sẻ cảm tưởng, trải nghiệm của họ sau khi đọc cuốn sách này, và cả những góp ý quý báu cho tác giả.
Những ý kiến phản hồi của độc giả giúp tôi nhận thức sâu sắc hơn gia đình là một tế bào của xã hội, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Hầu hết những vấn đề trong cuộc sống của con người, cũng như những vấn đề xã hội đều bắt nguồn từ gia đình. Do đó, việc giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, như bản thân tôi đã trải qua, nên bắt đầu từ gia đình, từ chính những người làm cha làm mẹ. Tôi cảm thấy tự hào khi cuốn sách “Nghiệt ngã và thành công” có thể làm nhiều người xúc động, kích thích mọi người nghĩ về những giá trị của gia đình, thôi thúc họ thêm nhiệt tình chăm bón “cây yêu thương” trong gia đình mình, đó cũng là cách cụ thể nhất góp phần tạo nên một cộng đồng hạnh phúc.
Tôi rất vui nếu cuốn sách này là động lực tinh thần cho những ai đang đương đầu với những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, là lời động viên mỗi người sống tốt hơn vì bản thân mình và vì người khác, bớt ích kỷ, bớt đòi hỏi được đền đáp khi làm việc tốt. Riêng tôi, tôi sẽ dành toàn bộ thời gian sống còn lại của mình để mang lại những giá trị tốt đẹp cho cộng đồng trong khả năng của mình. Cụ thể, tôi sẽ truyền lại những kiến thức, kinh nghiệm cho xã hội thông qua việc viết sách, nói chuyện trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đóng góp vào các hoạt động nghệ thuật, học thuật, bảo vệ môi trường… bằng tất cả khả năng của mình với mong muốn góp phần làm cho các thành viên trong xã hội gắn bó thương yêu lẫn nhau, biết tha thứ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Tôi mong ước cuốn sách “Nghiệt ngã và thành công” được nhiều người biết đến để những thông điệp của sự gắn bó, bao dung càng lan tỏa. Tôi đã tặng cuốn sách này cho các trường học, thư viện, trại giam trên khắp đất nước Thái Lan nhưng có lẽ như thế vẫn chưa đủ. Vì vậy, tôi mong rằng bạn đọc sẽ góp phần giúp làm những điều tốt và chuyền tay cuốn sách này cho những người khác để góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn.
Với tất cả chân thành, tôi tin tưởng rằng những việc làm tốt sẽ là những “lá bùa hộ mệnh” cho các bạn và gia đình để chúng ta thong dong bước đi trong cuộc đời vốn nhiều biến động này.
-Vikrom Kromadit
![]() |
Lời mở đầu
Từ phát súng người cha bắn vào đầu con trai…
Chiếc xe hơi Mitsubishi màu xanh lao như tên bắn trên quốc lộ đoạn Pinklao-Nakhorn Chaisri, vọt lên cắt mặt một chiếc xe taxi đang chạy phía trước khiến người lái suýt tránh không kịp.
- Này, lái xe kiểu gì thế? Muốn chết hả? - Người lái xe taxi hạ cửa kính xuống, hét lên tức tối.
Tôi định hét trả: “Đúng đấy! Tôi đang muốn chết đây. Nhưng phải sau khi tôi giết chết một người đã!”.
Tôi tấp xe vào lề đường để tránh chiếc xe khách liên tỉnh đang lao tới ngáng đường, bánh xe cán lên đoạn đường đầy sỏi và đá cuội khiến chiếc xe rung bần bật, nhưng tôi chẳng bận tâm. Điều duy nhất tôi nghĩ lúc này là đến được nơi cần đến nhanh nhất có thể, dù cho chiếc xe này - tài sản duy nhất bố cho tôi - có vỡ tung ra.
Cách đây ít phút, Daeng (tên gọi thân mật của Vipavee) - em gái tôi - nức nở qua điện thoại:
-Anh cả ơi! Anh Lan bị bắn rồi!
-Cái gì? - Tôi hỏi lại, như không tin vào tai mình. Daeng vỡ òa nhắc lại:
-Anh Lan... Anh Lan bị bắn…
- Ai bắn? Tình trạng thế nào rồi, hiện đang ở đâu? -Tôi hỏi, tay siết chặt ống nghe.
Em gái tôi khóc nức nở nói không ra lời. Một lúc sau, em mới cất lên tiếng ngắt quãng:
-Anh Lan bị bắn vào đầu rất nặng, thập tử nhất sinh, hiện đã được chuyển từ bệnh viện Tha Rua đến bệnh viện Paolo rồi.
-Vậy anh đến thẳng bệnh viện Paolo nhé! - Tôi nói mà đầu óc quay cuồng với hàng loạt câu hỏi chưa có lời giải đáp.
Chuyện gì đã xảy ra? Lan - tên thân mật của Vitit - em trai tôi - vốn không phải là đứa thích gây gổ. Vậy ai đã gieo tai vạ khủng khiếp này cho nó? Điều quan trọng là Lan có qua khỏi không vì Daeng nói rằng tình trạng của nó rất xấu.
Tôi vặn vô lăng, đột ngột vượt lên trước chiếc xe tải đang chạy song song từ lúc nãy. Nghe có tiếng hãm phanh rin rít, nhưng lúc đó tôi không hề nghĩ đến nguy hiểm mà trong đầu chỉ hình dung hình ảnh Lan đầu bị băng bó kín mít, với lời giải thích của bác sĩ về tình trạng của bộ não và khả năng sống sót chỉ 10%.
Lòng tôi nóng như lửa đốt, đau xót khôn tả và nỗi căm thù tuôn trào… đến mức phải lấy một tay đang cầm lái lau nước mắt… Như một kẻ điên, tôi bóp còi inh ỏi xin đường. Chân tôi nhấn ga đến hết cỡ như không cần đến tính mạng. Chiếc xe 1.600 phân khối lao hết công suất, vượt qua 2-3 chiếc xe chạy phía trước và tưởng chỉ trong gang tấc sẽ va vào nhau.
Đến trước phòng cấp cứu bệnh viện Paolo, trong không khí ủ rũ và u ám với những nét mặt đau buồn và đầy nước mắt của mẹ và các em, tôi lạc giọng hỏi Daeng:
-Chuyện thế nào?
-Không sao đâu con. Đây là số mệnh của mẹ! - Mẹ tôi khóc sướt mướt và ngăn không cho Daeng trả lời những câu hỏi của tôi.
Tôi rít lên:
-Không! Đó không phải là số mệnh của riêng mẹ! Đó là số phận chung của em Lan, của con và của tất cả chúng ta. Con sẽ không để kẻ làm em Lan ra nông nỗi này sống đâu!
Ít phút sau, tôi đã ngồi trên xe, ngước nhìn vào chiếc gương phản chiếu ghế sau, trên đó có chiếc túi dài chuyên đựng dụng cụ thể thao mà tôi vừa vội ném ra ghế sau trước khi lao xe ra đường. Có lẽ không ai ngờ rằng trong chiếc túi đó không phải là dụng cụ thể thao để rèn luyện thân thể mà là một khẩu súng săn và hai khẩu súng ngắn đều đã nạp đầy đạn, sẵn sàng nhắm vào người đã nổ súng vào đầu em trai tôi cách đây mấy tiếng đồng hồ.
Người đó, thật đau đớn, không ai khác mà chính là bố ruột của tôi - người sinh ra tôi và các em tôi. Và nếu trong ngày định mệnh ấy, nếu tôi không kịp trấn tĩnh suy nghĩ lại, cướp cò súng, mang trọng tội giết đấng sinh thành, thì hôm nay nhiều khả năng tôi không có cơ hội chia sẻ với bạn đọc những câu chuyện dưới đây. Tôi sẽ trở lại với câu chuyện đau buồn của ngày hôm ấy ở những trang sách sau.
Bạn đọc thân mến, tôi quan niệm rằng cuộc đời mỗi con người giống như cuốn nhật ký mà mỗi dòng, mỗi trang đều có thể có cả ngọt ngào, hạnh phúc lẫn đắng cay, đau đớn; có tiếng cười lẫn những giọt nước mắt, niềm tự hào lẫn tủi nhục. Dù những điều đó làm chúng ta thấy nức lòng hay buồn tủi thì cũng không ai có thể tẩy xóa và viết lại cuốn nhật ký cuộc đời mình.
Có lẽ ai cũng có cuốn nhật ký cuộc đời theo hình thức này hay hình thức khác, nhưng không phải ai cũng muốn mở nó ra cho người khác xem, vì quan niệm đó là chuyện riêng tư hoặc không muốn xới lại những vết thương lòng đã cố gắng chôn chặt. Thế nhưng, có lẽ chúng ta sẽ sẵn sàng chia sẻ nếu nghĩ rằng những điều mình từng trải qua có thể là bài học cho người khác, đặc biệt là những người đi sau, để họ không sa vào những hố sâu như ta. Thậm chí còn có thể giúp họ men theo con đường đúng đắn để chạm đến tương lai tươi sáng mà ít phải lao thân vào gai góc, bụi rậm một cách không cần thiết.
Những câu chuyện các bạn sẽ đọc dưới đây là một phần cuốn nhật ký đời tôi - Vikrom Kromadit. Tôi không phải là nhân vật quan trọng và tôi cũng không bao giờ nghĩ rằng cuộc đời mình là tấm gương cho ai đó noi theo, nhưng tôi tự nguyện công bố cuốn nhật ký cuộc đời của mình vì hai lý do sau:
Thứ nhất, tôi muốn đem lại một bài học, một điển hình cho những ai mong muốn tham khảo - đặc biệt là các bạn trẻ - những người sẽ nắm giữ tương lai của đất nước, kể cả những người kém may mắn trong xã hội, những người đang sống trong các trại giam, trại cải tạo. Đó là vì cuộc sống của tôi, từ nhỏ đến lớn, đã từng trải qua nhiều chuyện oái oăm, từng cảm thấy uất ức về số phận hẩm hiu, kém may mắn, từng bị người khác lừa gạt, vu oan giá họa, kể cả đã từng gây chuyện với người khác do thói ngông cuồng, ngạo mạn hay do những giây phút hành động thiếu suy nghĩ chín chắn.
Thứ hai, tôi tin tưởng rằng dù cuộc đời mình có gặp phải phong ba bão táp dữ dội đến đâu, nhưng nếu mình giữ vững tinh thần và có quyết tâm vượt qua trở ngại mà không chịu lùi bước hay bỏ cuộc giữa chừng thì trước sau gì mình cũng sẽ nhìn thấy bến bờ, hay nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm. Nghĩa là nếu mình có quyết tâm, bất cứ sự thành công nào cũng không phải là điều không thể vươn tới.
Và bây giờ, mời bạn cùng ngược về quá khứ, đến với những câu chuyện của tôi.
Vài điều về nguồn cội, mẹ tôi và tuyến đường sắt tử thần
Gia đình tôi có gốc gác người Hẹ (di cư từ Đông Nguyên, thuộc khu vực đồng bằng sông Hoàng Hà, là một trong năm nhóm lớn người Trung Quốc di cư sang Thái Lan thời Rattanakosin(*)). Mỗi lần di cư, họ thường đi thành từng đoàn lớn, khi tìm thấy địa điểm vừa ý, họ sẽ định cư lâu dài tại đó. Tuy nhiên những nơi như thế thường có sẵn những chủ nhân định cư từ trước, vì vậy người Hẹ đương nhiên trở thành “khách” nên họ được gọi là “khách gia”. Một đặc điểm phản ánh tính chất di cư, tha hương của người Hẹ là việc họ thích sống chung trong một đại gia đình, dưới một mái nhà rộng lớn, vững chãi, an toàn như các lâu đài xưa.
Người Hẹ sống ở Thái Lan phần lớn xuất xứ từ huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Quảng Đông. Họ lập nghiệp chủ yếu bằng những nghề thủ công như thợ may, thợ da giày, thợ cắt tóc, thợ bạc,… Một số khác bán hàng tạp hóa, hay chủ nhà máy thuốc lá.
Người Hẹ nổi tiếng về tính cần cù lao động, giỏi buôn bán, tằn tiện, thậm chí họ được gán cho danh hiệu “người Do Thái của Trung Quốc”. Người Hẹ còn là dân tộc giữ gìn nghiêm ngặt phong tục tập quán, có khi đến mức bảo thủ. Họ đặc biệt quan tâm đến các vấn đề chính trị. Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi những tư tưởng, niềm tin, quan điểm sống của người Hẹ được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách vững chắc, toàn diện, sâu sắc. Dù vậy, người Hẹ vẫn có thể hòa nhập và gắn kết văn hóa cũ với văn hóa mới để thích nghi với môi trường họ sinh sống. Đó cũng là những nét truyền thống trong gia đình tôi, được lưu giữ qua nhiều thế hệ.
Ông cố nội của tôi có tên là Qui Sun Chang. Họ “Qui” có nghĩa là “gò đất” (tuy phát âm có khác nhau tùy theo tiếng phổ thông, tiếng Triều Châu, hay tiếng Hẹ, nhưng viết giống nhau). Ông đi lang bạt bằng thuyền buồm từ quê nhà là thị trấn nhỏ Jie Si, cách thành phố Shantou tỉnh Quảng Đông khoảng 100 km. Ông đến Thái Lan buôn bán tại huyện Tha Muang. Đến khoảng 20 tuổi thì kết hôn với bà cố nội tôi là người Thái Lan, tên là Inn, rồi chuyển đến sinh sống tại thị trấn Tha Rua, huyện Tha Maka, tỉnh Kanchanaburi, hành nghề kinh doanh thuốc lá rất phát đạt.
Giống như nhiều Hoa kiều cùng thời khác ở Thái Lan, ông cố nội tôi thích gửi con cái về Trung Quốc để học hành nhằm mục đích duy trì mối quan hệ dòng tộc, đồng thời học tiếng Hoa để tiếp thu nền văn hóa truyền thống của quê cha đất tổ. Do vậy, từ năm 7 tuổi, ông nội tôi - tên Kachang Siangkio - được ông cố nội đưa về Trung Quốc, ở nhờ nhà một người họ hàng.
Ông cố nội tôi không may bị bệnh mất sớm, khi mới 26 tuổi trong một chuyến ông trở về Trung Quốc buôn bán và được chôn cất tại quê nhà. Bà cố nội tiếp thu công việc kinh doanh của ông cố và nhờ tháo vát chăm chỉ, bà trở thành một nhà kinh doanh thuốc lá có tiếng tại tỉnh Kanchanaburi thời đó. Có người kể rằng bà cố nội là một người nghiêm khắc, quyết đoán, có uy quyền, ăn to nói lớn và nói như đinh đóng cột, nhưng kỳ thực bà là người nhân hậu, rộng lượng, hay giúp đỡ người nghèo.
Sau đó, bà cố nội tái hôn, có thêm hai người con. Trong đó một người tên là Ngi Suk Kung, em trai cùng mẹ khác cha với ông nội tôi, là người tôi rất gắn bó hồi còn nhỏ.
Ông nội tôi sang Trung Quốc sinh sống, học tập suốt 12 năm. Khi đã thành thạo tiếng Trung Quốc, năm 20 tuổi ông quay lại Thái Lan. Khi đó bà cố nội đã chuẩn bị sẵn một cô dâu người Triều Châu cho ông. Bà đã rước sẵn cô về nuôi trong nhà từ trước. Đây là việc phổ biến vào thời đó vì người Hoa muốn con cái kết hôn với người Hoa để duy trì nòi giống, gìn giữ phong tục, tập quán.
Sau khi trở về Thái Lan, ông nội tôi giúp bà cố nội trông coi công việc kinh doanh thuốc lá. Ông đã biết dùng phương pháp “khoán sản phẩm” để quản lý việc trồng thuốc lá. Ông để cho người trồng thuốc lá tự cai quản việc trồng trọt và ông chỉ thu mua sản phẩm. Việc chủ yếu của ông là cải tiến nâng cao chất lượng giống cây. Sau khi thu mua lá thuốc lá, ông đem chế biến thành sợi, đóng gói xuất về Trung Quốc thông qua các nhà buôn tại Bangkok.
Vì thời trẻ sống ở Trung Quốc khá lâu nên ông nội tôi gắn bó, quen thuộc với lối sống ở Trung Quốc hơn Thái Lan, ông cũng không nói thạo tiếng Thái. Vì vậy, ông luôn ấp ủ ý định quay lại Trung Quốc sinh sống và quyết tâm thực hiện bằng cách thường xuyên chuyển phần lớn số tiền kiếm được vào ngân hàng ở Trung Quốc, dù ông cũng không từ chối tham gia đóng góp vào việc xây dựng đường sá, tu bổ chùa chiền hay giúp đỡ người nghèo khó tại Thái Lan, nơi ông đang sinh sống.
Ông bà nội tôi có bảy người con, 4 trai và 3 gái. Bố tôi là con thứ sáu, tên là Thung Fad. Dù ông cố nội tôi mất từ lâu, nhưng bà cố nội vẫn giữ truyền thống gửi các con và các cháu nội, tất cả hơn 10 người, sang Trung Quốc học. Chỉ trừ bố tôi vuột mất cơ hội ấy vì thời kỳ đó Nhật xâm chiếm Trung Quốc, bố đành học tiếng Hoa tại Thái Lan, nhưng phải học lén lút bởi vì chính quyền Thái Lan lúc đó cấm dạy tiếng Hoa. Vì thế trình độ tiếng Hoa của bố rất hạn chế, chỉ viết được tên mình và vài chữ khác. Thời đó, những người Hoa được sang Trung Quốc học hành đến nơi đến chốn sẽ được coi trọng hơn người khác trong cộng đồng người Hoa. Có lẽ cũng vì vậy mà bố tôi thường tự ái, tủi thân, cho rằng mình thua thiệt.
Ông bà ngoại tôi cũng có nguồn gốc người Hẹ, có 4 con, một trai và 3 gái. Gia đình ông bà ngoại tôi làm ăn khấm khá, sở hữu khá nhiều đất đai trong vùng. Một vài biến động xảy ra khi Thế chiến thứ hai tràn đến nơi ông bà ngoại ở thị trấn Tha Rua, huyện Tha Maka, tỉnh Kanchanaburi. Những câu chuyện tôi nghe kể về thời kỳ đó vẫn đọng lại trong ký ức tôi.
Trong lịch sử, Thế chiến thứ hai được ghi chép là cuộc chiến có quy mô lớn nhất, tàn khốc nhất, nổ ra ngày 1/9/1939 khi Phát xít Đức xâm lược Ba Lan và sau đó lan sang cả châu Âu. Tại châu Á, Nhật gia nhập trục Phát xít Đức - Ý. Điều không ai ngờ là ngày 8/12/1941, quân Nhật bất ngờ chiếm các tỉnh ở phía Tây và miền Nam Thái Lan và gặp phải sự kháng cự quyết liệt của binh lính, quân tình nguyện Thái Lan.
Cuối cùng, Chính phủ của Thủ tướng Thái Lan chấp nhận yêu sách của Nhật, cho phép quân Nhật quá cảnh Thái Lan sang Myanmar; đổi lại Nhật sẽ tôn trọng độc lập và chủ quyền của Thái Lan. Quân Nhật tại Đông Nam Á có sở chỉ huy đóng tại Singapore. Nhật gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp tế đường biển sang Myanmar vì thường xuyên bị các tàu ngầm của quân Đồng minh tấn công. Do đó, Nhật quyết định xây dựng tuyến đường sắt nối liền Thái Lan - Myanmar, bắt đầu từ một ga thuộc tỉnh Ratchaburi, xuyên qua khu rừng rậm hoang vu hiểm trở của tỉnh Kanchanaburi, nằm trên cây cầu gỗ bắc qua sông Kwai và chạy sang bên kia biên giới Myanmar. Tuyến đường sắt này đi vào hoạt động vào ngày 25/10/1943, chỉ sau 8 tháng xây dựng, dài 415 km, tiếp nối với tuyến đường sắt Malaysia - Singapore và tuyến đường sắt phía Nam của Thái Lan.
Lực lượng nòng cốt xây dựng đường sắt là tù binh người Anh, Úc, Hà Lan, Mỹ và các lao công người châu Á, phần lớn là người Myanmar và Malaysia. Hàng vạn người đã chết khi xây dựng tuyến đường sắt này vì bệnh sốt rét mà không có thuốc men chữa trị, lao động khổ sai suốt ngày đêm, ăn uống thiếu thốn… Do đó tuyến đường sắt này được mệnh danh là “tuyến đường sắt tử thần” (The Death Railway).
Những người thân của tôi kể rằng, các kỹ sư Nhật cho xây nhà ga xe lửa Tha Rua Noi sát khu vườn của ông ngoại tôi. Đây là một trong 4 nhà ga của “tuyến đường sắt tử thần”, cách ga đầu tiên 26 km. Lính Nhật mặc quân phục kaki, mang giày cao su, chân cuốn vải, đeo kiếm, cầm súng dài để canh giữ tù binh làm đường. Ở công trình lớn ấy, tuyệt không thấy bất kỳ máy móc thi công nào, các tù binh và lao công da bọc xương chỉ làm việc chân tay với búa, cuốc, xẻng…
Cậu Keo, em trai của mẹ tôi, kể rằng thuở đó quân Nhật ngang nhiên trưng dụng khu vườn cây ăn trái sum suê xoài, ổi, mít, nhãn... của ông ngoại tôi để làm chỗ nghỉ tạm cho đội lính công binh của Nhật khoảng 20-30 người. Ông bà ngoại tôi vốn tốt bụng và biết điều nên thỉnh thoảng còn bưng nước và trái cây mời lính Nhật. Lính Nhật tỏ ra rất có kỷ luật, biết tôn trọng chủ nhà, không làm gì xâm phạm đến nhân phẩm của 3 cô gái trong nhà - tức mẹ và các dì của tôi. Cũng vì vậy mà ông bà ngoại tôi không sơ tán như gia đình bên ông nội tôi.
Mẹ tôi lúc đó mới 17 tuổi, xinh đẹp, tháo vát. Mẹ thường hái trái cây trong vườn, ra chợ mua thêm trứng luộc, bánh ngọt, lấy thêm thuốc lá do mẹ tôi tự cuốn, rồi cùng cậu em trai 8 tuổi (tức cậu Keo của tôi) mang tất cả hàng hóa ấy ra ga bán. Mẹ được phép buôn bán ở đó cũng vì lính công binh của Nhật thường nghỉ chân ở nhà ông ngoại tôi nên dần thân quen. Mỗi khi có chuyến tàu vào ga, bất kể nửa đêm hay sáng sớm, mẹ đều tất tả mang hàng ra ga. Mẹ tôi nói được một ít tiếng Nhật và nhờ linh hoạt sử dụng ngôn ngữ cử chỉ nên bà vẫn bán hàng khá tốt.
Lính Nhật đối xử tương đối tử tế với người Thái Lan, trừ khi họ phạm tội. Còn với các tù binh, họ đối xử rất tàn bạo, sẵn sàng bắn chết tại chỗ các tù binh tìm cách bỏ trốn hay dám gây loạn trong trại. Thậm chí, tôi nghe kể họ còn chôn sống một số tù binh.
Lính Nhật ghét nhất những ai dám trộm cắp tài sản của họ. Mẹ tôi kể rằng có một ông hàng xóm tên In đã cắt trộm dây điện của quân Nhật và không may bị bắt. Ông bị lính Nhật bắt trói rồi đổ nước xà phòng vào miệng cho đến khi bụng ông căng ra. Sau đó lính Nhật đạp thẳng chân vào bụng ông, khiến ông ói ra nước xà phòng. Mãi đến khi ngất xỉu, ông In mới được thả ra. Những người dám ăn cắp xăng dầu của Nhật cũng phải chịu hình phạt tương tự: bị đổ xăng dầu vào miệng, sau đó bị đạp vào bụng cho đến khi ói ra xăng dầu. Chính những hình phạt kinh khủng này khiến không còn ai dám ăn cắp tài sản của quân Nhật.
Cậu Keo kể, khi rút đi, lính Nhật dọn sạch đồ đạc, không để lại thứ gì trong khu vườn của ông ngoại, trừ một số sọt nhốt gà, heo và hai cuộn dây thép. Về phần mẹ tôi, trong thời gian Nhật chiếm đóng, nhờ khéo xoay xở bán hàng rong nên bà kiếm được số vốn kha khá và quan trọng hơn là tích lũy được một số kinh nghiệm buôn bán. Sau chiến tranh, gia đình ông nội tôi từ tỉnh Ratchaburi quay lại thị trấn Tha Rua, huyện Tha Maka, tỉnh Kanchanaburi sinh sống.
Sau này, khi có dịp gặp ông Hiroshi Ota -cựu đại sứ Nhật tại Thái Lan, tôi đã hỏi ông thông tin về những người lính Nhật từng đóng quân và cai quản việc xây dựng đường sắt tại tỉnh Kanchanaburi, đoạn ngang qua khu vườn của ông ngoại tôi. Ông Hiroshi Ota cho biết có một cựu thượng sĩ tên là Takaji Otsuka, từng đóng quân tại địa điểm trên và hiện còn sống.
Cuối năm 2006, tôi có dịp sang Nhật và nhờ ông Hiroshi Ota liên hệ với cựu thượng sĩ Otsuka để tôi đến thăm. Tôi đến gặp ông Otsuka tại thành phố Kanagawa, cách Tokyo một giờ đi xe lửa cao tốc. Ông Otsuka lúc ấy đã 86 tuổi, song còn rất minh mẫn, khá bất ngờ và vui mừng khi biết tôi là con của cô gái Thái bán hàng rong tại nhà ga ở tỉnh Kanchanaburi hơn 60 năm về trước. Cựu thượng sĩ Otsuka kể lại, lúc đó ông 21 tuổi, sau khi đóng quân một thời gian tại Singapore, ông được điều sang Kanchanaburi, Thái Lan trong 6 tháng, sau đó chuyển về Malaysia. Chiến tranh kết thúc, ông bị quân Đồng minh bắt làm tù binh, bị đưa sang vùng biên giới Myanmar -Thái Lan trong 2 năm để tháo gỡ “tuyến đường sắt tử thần” rồi sau đó được trả tự do. Kể đến đây, ông nghẹn ngào thú nhận: “Đến bây giờ tôi vẫn cảm thấy ân hận, xấu hổ vì quân đội Anh và Đồng minh đối xử với tôi và các tù binh Nhật tử tế hơn nhiều so với cách quân Nhật đối xử với tù bình quân Đồng minh”.
Sau chiến tranh, cuộc sống của nhiều tầng lớp đảo lộn như trở bàn tay. Có những công chức hưởng lương ổn định, con cái của họ sống dựa vào tiền của cha mẹ mà chẳng cần quan tâm tích lũy kinh nghiệm làm ăn sinh sống. Lại có nhiều người rơi vào cảnh trắng tay vì mải chạy theo lối sống vật chất, coi trọng vẻ ngoài hoặc bị lao đao bởi nền kinh tế hết giảm phát lại đến lạm phát. Song, cũng có một nhóm người biết cách biến khó khăn thành thuận lợi, trong đó có mẹ tôi.
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, mẹ tôi lao vào buôn bán với số vốn kha khá tích lũy được từ thời buôn bán ở nhà ga “tuyến xe lửa tử thần” và những kinh nghiệm làm ăn được tôi luyện nhuần nhuyễn qua năm tháng. Khi ấy, do khan hiếm lương thực, chính phủ cấm vận chuyển gạo qua ranh giới các tỉnh. Song, bằng cách nào đó, mẹ tôi vẫn lén mua được gạo từ các tỉnh khác. Bà còn bán cá bạc má hấp và thức ăn khô. Vốn tính chịu thương chịu khó, ít khi chịu ngồi yên một chỗ, dám chịu rủi ro, mẹ tôi còn mở thêm công ty chạy xe khách liên tỉnh Kanchanaburi Bangkok. Một cách hết sức thuyết phục và ấn tượng, mẹ tôi trở thành nữ doanh nhân hàng đầu của thế hệ doanh nhân đầu tiên của tỉnh Kanchanaburi.
Bố mẹ tôi kết hôn vào cuối năm 1951. Trước đó, mẹ đã qua hai đời chồng nhưng vẫn còn xuân sắc lắm. Bà còn tích lũy được số vốn kha khá nhờ giỏi làm ăn và tằn tiện, trong khi bố tôi chỉ có hai bàn tay trắng. Vì vậy có người bảo bố tôi “tự nhiên vớ được bà góa vừa đẹp vừa giàu, chẳng khác nào chuột sa chĩnh gạo”.
Lại có người kể rằng, thời gian đầu hôn nhân, mẹ tôi nói gì bố cũng nghe theo răm rắp, nhưng dần dần ông thay đổi thái độ, có nhiều hành động quá đáng và không hề bận tâm đã làm mẹ đau lòng thế nào. Đó cũng là chuyện bà con trong thị trấn Tha Rua thường bàn tán và khiến tôi nhiều lần phân vân không biết bố cưới mẹ vì tình hay vì tiền.
Tôi cất tiếng khóc chào đời vào ngày 17/3/1953, lúc 0g - giao thời giữa ngày thứ ba và thứ tư. Ông nội tôi - vốn hiểu biết về tướng số theo truyền thống của Trung Quốc và thường xem tướng số cho con cháu trong nhà - đã xem cho tôi và nói với mọi người rằng tôi có phúc, có tương lai xán lạn, sẽ đem lại phú quý phồn vinh cho dòng họ.
Ông nội đặt tên tiếng Hoa cho tôi là Din Pong - tức “Trấn Phong - phố trên núi”, tên đầy đủ là Qui Din Pong. Đến khi tôi học lớp 4 thì người Hoa ở Thái Lan có phong trào đổi họ tên từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Thái, nên bố đổi họ thành Koowatcharachroon, tôi vẫn giữ tên Din Pong.
Ngôi nhà đầu tiên của bố mẹ tôi ở số nhà 99 đường Saeng Chuto, nằm sát chợ, tính đến nay ngôi nhà đã có hơn 50 năm tuổi. Đây là nhà phố hai tầng bằng gỗ. Cửa ra vào có thể gấp lại, có then cài bên trong, bên ngoài không mở được. Vì vậy, từ nhỏ tôi được giao nhiệm vụ gác cửa cả đêm lẫn ngày. Tối nào bố tôi đi đâu về, gọi tên tôi 2-3 lần là tôi chạy nhanh ra mở cửa. Lâu dần thành thói quen, dù đang ngủ trong phòng bà nội hay làm việc gì, hễ nghe tiếng gọi là tôi chạy ào ra mở cửa như phản xạ. Nhiệm vụ này chỉ kết thúc khi tôi thoát ly gia đình đi du học vào năm 15 tuổi.
Khi mở cửa vào nhà, sẽ nhìn thấy phía phải là phòng của bà nội, phía trái chứa đủ loại hàng hóa (rau củ, hạt tiêu, bông vải, dầu ăn, bắp, đậu nành, các loại lâm sản do người ta mang đến bán). Khi thu mua đủ lượng hàng, mọi người sẽ đóng hàng thành những bao tải nặng 100 kg, đóng dấu nhãn hiệu “Khun Huad Lee” rồi chuyển cho đại lý ở Bangkok để xuất sang Nhật. Cạnh đống hàng hóa này là cầu thang dẫn lên tầng trên. Tầng này trống rỗng, là chỗ ngủ khi đêm về của hầu hết thành viên gia đình.
Trước cửa phòng bà nội, bố tôi kê một chiếc bàn để làm việc và tiếp khách hàng, trên tường có treo hình chân dung nhà vua Thái Lan và ảnh chụp chung của gia đình. Nằm chếch phòng bà nội một chút là sân tắm. Ở đây có cái giếng khơi bằng gạch và có cần lắc để lấy nước. Cách sân tắm không xa là nhà bếp với chạn chứa thức ăn, bếp than và chiếc bàn ăn lớn đủ chỗ cho khoảng 10 người. Phía sau bếp là nơi chứa đồ đạc và kê giường nghỉ tạm cho các thợ làm vườn. Góc cuối nhà là nhà vệ sinh.
Ngôi nhà này không chỉ là nơi ở, nơi chứa hàng, nơi làm việc của bố tôi mà còn là “xí nghiệp” nhỏ của mẹ. Hằng ngày, mẹ thức dậy lúc 4 giờ sáng, đi lấy cá hấp chuyển từ nơi khác đến. Sau đó bà ra chợ, dựng sạp hàng đầy ắp cá biển hấp, cá khô, mắm tôm, hành, tỏi… và tất bật buôn bán đến tận 6 giờ chiều. Về đến nhà, bà chưa nghỉ ngơi ngay mà lui cui nhóm bếp sau nhà hấp lại số cá thừa để khỏi bị hư thối và làm sạch cá khô để sâu bọ không bám vào.
Có thể vì từ khi chào đời, tôi được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ nên tôi rất gắn bó với mẹ. Tôi luôn cảm thấy hạnh phúc, yên tâm khi ở bên mẹ. Dù đã 2-3 tuổi, tôi vẫn thường đòi mẹ ẵm bồng, ôm ấp và bú sữa mẹ cùng với đứa em kế. Trưa nào cũng vậy, cô Tao - người giúp việc trong nhà - dẫn anh em tôi ra chợ để mẹ cho bú rồi nằm chơi tại sạp hàng của mẹ.
Song, mẹ có một thói quen khiến tôi rất khó chịu: mỗi khi tôi bị ngạt mũi hắt hơi, mẹ lại lấy tay siết mũi tôi cho nước mũi chảy ra thay vì dùng khăn tay hay giấy. Vì tay mẹ thường dính đầy mùi cá và bà không hề rửa tay trước khi chạm vào mũi tôi nên những lần như vậy, cả ngày tôi toàn ngửi thấy mùi cá tanh.
Trái ngược hoàn toàn với người mẹ dịu hiền, tốt bụng, khéo ăn nói, thường bày tỏ tình yêu thương với các con thì bố tôi rất lãnh đạm, hiếm khi cười đùa với con cái. Bố lúc nào cũng chỉ tập trung suy nghĩ làm thế nào để kinh tế gia đình ổn định, khá giả hơn.
Khi tôi còn bé, bố có dành ít thời gian chơi đùa với tôi, nhưng việc này chỉ kéo dài đến năm tôi gần 6 tuổi Tôi thích nhất những lần bố ngồi lên một khúc gỗ còn tôi ngồi vào đôi bàn chân đang cong lên của ông. Ông nhấc chân lên xuống, lắc qua lắc lại, khiến tôi cười thích thú vì cảm thấy như đang cưỡi ngựa. Thuở bé, tôi chưa bao giờ được bố mẹ mua cho bất kỳ món đồ chơi nào.
Khi tôi đến tuổi có thể phụ giúp công việc trong nhà, tôi rất thích làm chân sai vặt cho bố khi ông chuẩn bị các món ăn và dọn bàn ăn, cũng như cùng ăn cơm với bố tôi. Khi đó tôi như cái bóng của bố tôi, ông làm gì ở đâu thì tôi có mặt ở đó. Nhiều lần tôi và bố đứng nấp sau cánh cửa để dùng súng cao su rình bắn, đàn chim bồ câu hay sà xuống ăn đậu phộng đang phơi trên sân nhà. Sau đó tôi chuyên làm nhiệm vụ vặt lông những con chim mà bố tôi bắn được. Từ đó, tôi rất thích ăn thịt chim. Tôi còn giúp bố mẹ cắt tiết gà và làm bất cứ công việc gì mà bố mẹ tôi cần, nhiều khi không cần sai khiến.
Ngoài bố mẹ tôi, ông bà nội cũng rất yêu quý tôi và để lại trong tâm hồn tôi những ấn tượng khó phai.
Ông nội đứng đầu gia đình, rất gương mẫu, có tinh thần trách nhiệm cao và yêu thương các con cháu. Ông ít nói, cả ngày hết làm việc này đến việc kia và rất ít khi mắng chửi con cháu. Các cô bác đều nói với tôi rằng, cả đời họ chưa thấy ông nội và bà nội to tiếng với nhau lần nào. Nếu có điều gì khiến ông giận hay không hài lòng, ông sẽ tránh đi chỗ khác, để bà nội ca thán đến chán thì thôi, rồi mọi việc trở lại bình thường.
Tôi còn nhớ như in ngôi nhà của ông nội. Đó là ngôi nhà gỗ mái tranh, trông ra đường cái, hướng về ga xe lửa Tha Rua Noi. Sàn nhà được lót bằng gỗ tấm lớn, phía trái là phòng ngủ của ông bà nội, phía phải để trữ thuốc lá và xắt sợi những lá thuốc đã phơi khô.
Ông nội sống rất giản dị, ngăn nắp. Ông luôn lau dọn nhà cửa sạch sẽ, đồ đạc luôn để đúng nơi đúng chỗ. Ở nhà, ông thường ở trần, mặc quần đen bằng vải bông, bụng thắt dây lưng to có gắn một túi nhỏ, trong đó đựng tiền xu và những đồ lặt vặt. Có khi ông buộc thêm khăn vải bên ngoài thắt lưng. Khi đi ra ngoài, ông nội thường mặc áo dài tay màu trắng kiểu Trung Quốc và quần lụa đen.
Hầu như bữa ăn nào của ông bà nội cũng có mắm tôm giã với tỏi, giấm trộn rau sống hái từ vườn do ông tự trồng lấy, còn cơm thì thường trộn với chuối ngự hay khoai lang. Món khoái khẩu của ông bà là canh khoai sọ với lá thơm. Nước uống chính là nước gạo chắt ra trước khi ủ nồi cơm trên bếp than nhỏ lửa.
Ông nội rất chăm chỉ lao động. Khi còn làm việc tại xưởng thuốc lá, ông thường dậy lúc 4 giờ sáng để chuyển thuốc lá xuống thuyền rồi nương theo dòng sông Mae Klong đưa hàng vào Bangkok. Thông qua các thương lái, số thuốc này sẽ được xuất sang Trung Quốc. Mỗi lần đến Bangkok giao thuốc lá, ông nội thường đi mất vài ngày. Và dù vốn tính tằn tiện nhưng trong các chuyến đi ấy, bao giờ ông cũng mua quà bánh cho con cháu.
Còn vào buổi chiều, công việc khá quen thuộc của ông là ra chợ nhặt xương tại các sạp bán thịt heo đem về cho con chó mực cưng. Đôi khi ngoài xương heo, ông còn nhặt được cả bao tử, bì heo đem về phơi một nắng rồi sau đó đem rán.
Thời gian còn lại trong ngày, nếu không có việc đi đâu, ông nội sẽ tưới nước đoạn đường trước nhà cho bớt bụi rồi quét dọn sạch sẽ. Sau đó, ông ngồi trên cái sạp tre trước cửa đọc sách tiếng Hoa. Tối đến, ông bà nội rủ nhau ra trước nhà hóng mát, hút thuốc lá. Thỉnh thoảng có vài người họ hàng hay hàng xóm sang chuyện trò cùng. Vào mùa hè nóng nực, ông bà nội sẽ mắc mùng ngủ cạnh cây mận sau nhà, trên chiếc giường vải gập.
Cây mận này rất cao to, đến mùa thì đậu đầy những chùm quả đỏ thẫm, ngọt lịm. Ông nội chăm sóc cây mận rất kỹ. Ông lấy giấy hay bao tải rách quấn các chùm mận. Và để đuổi những con dơi thường ăn quả vào ban đêm, ông treo một thùng tôn vào cành cây, buộc thêm một thanh gỗ cạnh thùng tôn, đầu kia của thanh gỗ buộc vào dây thừng và kéo đầu dây thừng vào tận trong mùng. Nằm trong mùng, ông nội thỉnh thoảng giật dây thừng cho thanh gỗ đập vào thùng tôn, khiến đám dơi giật mình bay đi. Có đêm ngủ cùng ông nội, tôi đã có những trải nghiệm “vừa ngủ vừa đuổi dơi” thú vị này.
Dù cao tuổi, ông nội vẫn không bao giờ để khu vườn của gia đình hoang tàn. Ông bỏ công sức trồng trọt, chăm sóc bắp, đu đủ, rau cải xanh, cải đắng, các loại cây, củ vừa dùng để ăn vừa làm thuốc uống, thuốc nhuộm.
Vào mùa mưa, ông bà nội và bác Heang của tôi thường đi kéo vó tôm cá. Cá bắt được rất nhiều, một phần ăn, một
phần ướp muối làm nước mắm. Có khi ông bà nội còn đến khu vườn trái cây rộng 10 ha tại khu nghĩa trang ông bà cố nội tôi, cách nhà hơn 1 km để hái xoài đem bán, số xoài còn thừa thì đem muối ăn dần.
Các cô bác của tôi còn kể rằng, ông nội rất quan tâm đến công việc chung của cộng đồng. Ông thường xuyên quét dọn đường sá công cộng, góp tiền xây dựng cầu trong thị trấn. Ai nhờ ông giúp đỡ việc gì, ông chẳng nề hà và cũng không bao giờ kể công. Có nhiều người vay tiền ông, sau đó không có khả năng trả, ông không đòi, thậm chí xóa nợ luôn. Câu nói cửa miệng của ông nội là “Thiên hữu nhãn” (Trời có mắt), để nhắc nhở con cháu chớ làm điều xằng bậy mà tưởng rằng không ai biết, vì dù thiên hạ không hay biết chăng nữa nhưng chắc chắn ông trời sẽ tỏ tường.
Song có một việc ông nội thường làm mà không ai trong gia đình can ngăn được: ông thích chuyển hầu hết số tiền tích cóp được về Trung Quốc. Mỗi lần ông chuyển tiền đi, bà nội và các cô chú bác của tôi chỉ biết bất lực đứng nhìn hoặc cùng lắm là kêu ca phàn nàn. Ai cũng nuối tiếc vì lợi nhuận kiếm được bằng công sức lao động của mọi người trong gia đình mà chẳng ai được hưởng, hay ít nhất là sử dụng sao cho có lợi nhất.
Ký ức giản dị mà thân thương nhất của tôi về ông nội là có những buổi sáng, ông nội đi bộ từ nhà ông (cách nhà tôi khoảng 50 mét) đến đón tôi đi ăn bánh khọt tại quán của bà Waeng ở đầu chợ Lang - quán này ngon nổi tiếng trong vùng. Sau đó, ông ghé vào quán cà phê chuyện trò với vài người bạn.
Năm tôi hơn 3 tuổi, ông nội ngã bệnh nặng. Tôi ở cạnh giường bệnh của ông đến phút cuối cùng. Trước khi ra đi, ông nội còn gọi tên tôi và thì thào 2-3 câu mà tôi nghe không rõ. Cũng lúc đó, ông nội đặt vào tay tôi một chùm nho.
Nhiều năm sau khi ông nội mất, lúc chuyển chiếc tủ cũ mà ông nội gửi ở nhà bác Thung Hon - người con trai thứ hai của ông bà nội - mọi người bất ngờ phát hiện một tập ngân phiếu được ông nội cất giấu trong ngăn kéo. Nhưng thật đáng buồn, khi đó Trung Quốc đã chuyển sang chế độ xã hội chủ nghĩa và xóa bỏ hệ thống tiền tệ cũ. Số ngân phiếu vốn từng có giá trị rất lớn ấy phút chốc biến thành giấy lộn. Dù vậy, sau đó, gia đình tôi có trao lại cho một người họ hàng tên Chơn ở Trung Quốc.
Hiện nay, gia đình tôi vẫn còn lưu giữ cái bếp áp suất và cây súng trường của ông nội làm kỷ niệm. Những vật dụng thân thiết ấy luôn gợi nhớ trong lòng chúng tôi về người ông đáng kính.
Tôi gần gũi bà nội nhiều hơn sau khi ông nội mất. Tôi được bố giao nhiệm vụ luôn ở cạnh bà nội để chăm sóc, giúp bà những việc vặt vì lúc đó bà đã ngoài 60 tuổi, đi lại khó khăn. Bà nội vốn rất chăm chỉ, ham công tiếc việc, ít khi nào chịu ngồi yên một chỗ và cái tính ấy “lây” cả sang tôi. Chẳng hạn như sáng sớm tôi đi kiểm tra đàn vịt đẻ, lấy tay sờ xem vịt còn trứng hay không, nếu không thì chứng tỏ vịt đã đẻ, nếu còn trứng thì phải nhốt nó trong chuồng để nó không đẻ trứng lung tung. Sau đó tôi đem trứng đi luộc, chiên với thịt băm hay làm ốp la cho bà nội ăn. Đôi khi tôi còn đem trứng vịt đi làm trứng muối, mang trứng gà bán cho quán cà phê.
Bà nội hay phàn nàn việc tôi thiếu vệ sinh, chưa ngăn nắp. Bà hay nhắc đi nhắc lại câu: “Người lười biếng ở chỗ sáng vẫn không biết chiếc ly nào bị mẻ. Còn người chăm chỉ thì dù ở chỗ tối vẫn biết cái ly nào bị nứt”.
Bà nội rất mộ đạo, thường đi chùa cúng bái, ăn chay niệm Phật, không sát sinh. Bà tin rằng làm nhiều việc phúc tức là để đức cho con cháu, giúp chúng tôi hưởng phúc lộc về sau. Khi tôi còn bé, bà thường dẫn tôi đi chùa vì muốn giúp tôi tu nhân tích đức, tránh điều dữ, làm điều lành.
Lúc nhỏ, tôi rất nghịch ngợm, thích chơi chọi gà, chọi cá, chọi dế… hay dùng súng cao su bắn chim, chó, thằn lằn… Có lần, thấy tôi giương súng cao su định bắn một con dê, bà vội ngăn: “Cháu ơi, không được gây tội lỗi. Gây tội sẽ phải gánh hậu quả”. Những lời ấy chui vào tai này rồi lại lọt qua tai kia của tôi. Can ngăn tôi không được, bà nội chỉ biết than phiền và tuôn ra tràng mắng dài bằng tiếng Hoa. Nếu tôi còn bướng bỉnh, bà sẽ la toáng lên cho bố mẹ tôi đến xử lý. Đến lúc đó tôi mới chịu nghe lời.
Bà nội là người Triều Châu nên rất thích xem tuồng. Hằng năm, cứ đến buổi diễn tuồng ở sân khấu ngoài trời của thị trấn Tha Rua là bà lại sai con cháu mang ghế đến đó từ trưa để xí chỗ. Tôi thường đi xem tuồng cùng với bà nội nhưng không mấy tập trung mà nguyên nhân chính là vì chẳng hiểu gì. Mỗi khi thấy tôi ngủ gật bà nội liền móc trong túi vài xu, bảo tôi chạy đi mua bánh hay kem ăn cho tỉnh ngủ rồi ráng xem hết vở diễn cùng bà.
Tôi ngủ chung với bà nội trong vài năm. Khi du học xong và trở về nước (23 tuổi), tôi thường ghé thăm bà, giúp bà ngâm chân vào nước nóng để máu dễ lưu thông, sau đó lấy máy xoa bóp bằng điện để xoa bóp cơ bắp cho bà. Tôi cũng hết sức chú ý vấn đề ăn uống của bà nội, ăn nhiều rau xanh và những thức ăn dễ tiêu.
Tôi cũng rất gần gũi với bà ngoại. Như khá nhiều phụ nữ Thái ở thôn quê, bà có nước da ngăm đen, thân hình vừa phải, khỏe mạnh, thường mặc áo trắng ngắn tay, váy màu đen hay xanh thẫm, tóc búi tròn, cổ đeo dây chuyền vàng. Bà ngoại là người Thái gốc Hoa, giản dị, hiền lành, ít nói. Chẳng bao giờ thấy bà đánh đập Bà ngoại tôi lúc 80 tuổi con cái hay cãi cọ với ai.
Tôi được bà ngoại rất yêu qúy và từng sống chung với bà trong 1-2 năm. Nhà bà ngoại cách nhà bố mẹ tôi chỉ chừng 200 mét, lọt thỏm trong khu vườn ven đường sắt, nền nhà bằng đất nén. Trong khu vườn này còn có nhà của dì Lek, con gái lớn của ông bà ngoại. Nhà bà ngoại rất sạch sẽ, ngăn nắp chứ không luộm thuộm như nhà bố mẹ tôi. Nếu ở nhà bố mẹ, tôi tiếp nhận những nét sinh hoạt mang văn hóa Trung Hoa thì tại nhà bà ngoại, tôi đã tiếp thu văn hóa cổ của người Thái.
Bà ngoại và hầu hết những người họ hàng bên ngoại có nước da ngăm đen, ăn cơm bốc bằng tay theo truyền thống của người Thái. Sau một ngày làm việc, mọi người thường tập hợp quanh một chiếc radio lớn, có thể nằm hoặc ngồi tùy thích. Bên cạnh radio là cái bảng gồm nhiều cục pin ghép lại để chạy radio, nóc nhà có treo cột ăngten thu sóng. Mọi người rất chăm chú thưởng thức các chương trình phát thanh, nhất là các vở kịch nổi tiếng của các đoàn kịch Kantathaworn hay Kantana.
Thời gian ấy, bà ngoại đi đâu tôi cũng đòi đi theo. Lúc thì tôi giúp bà hái trái cây, khi thì nhặt xoài rụng mang về làm mứt hay muối ăn dần trong gia đình hoặc đem chia cho họ hàng. Tôi thích nhất những lúc bà ngoại lấy ráy tai cho tôi. Tôi nằm trên đùi bà dưới bóng xoài mát dịu, mắt lim dim còn bà thì hí hoáy lấy ráy tai. Khi bà thổi “Phù!” một cái vào tai tôi và nói: “Xong rồi!” thì tôi biết những giây phút “sung sướng nhẹ nhàng” ấy kết thúc.
Ông ngoại có vóc dáng cân đối. Ông tốt bụng, hiền hòa, nhưng khi cáu giận thì rất hung dữ. Thỉnh thoảng, ông cũng mắng chửi, đánh con cái nếu chúng sai trái.
Vườn của ông bà ngoại cũng chính là thiên đường vui chơi của tôi cùng bè bạn và các em. Chúng tôi tha hồ leo cây cọ, cây cau rồi hái ăn thỏa thích ổi, dâu da đất, hồng xiêm, mít, nhãn, mãng cầu, mận, cóc… Nhưng hấp dẫn nhất là đoạn đường hầm vẫn còn sau chiến tranh, nơi quân Nhật cất giấu đầu máy xe lửa. Cửa đường hầm bị cỏ dại bao phủ, các loại dây leo chằng chịt, không khí mát rượi. Chúng tôi hay đến đó leo trèo, vui đùa và nằm nghỉ vào buổi trưa.
Ở đó có nhiều rắn rết, kể cả rắn lục rất độc, nhưng dù mới 5 tuổi, tôi đã biết cách phòng tránh và dám… đánh chết chúng, chứ không bỏ chạy như nhiều đứa trẻ khác. Cũng có thể vì sợ bị nó cắn nên tôi phải đề phòng bằng cách… ra tay trước. Thói quen đánh chết rắn theo tôi đến tận khi trưởng thành. Sau này nghĩ lại, tôi thấy làm như vậy là có tội, do đó về sau nhìn thấy rắn là tôi tránh. Hơn nữa, tôi sinh năm Tỵ, theo duy tâm, đúng ra tôi phải chăm sóc, bảo vệ con vật mà tôi cầm tinh mới phải.
Mẹ tôi thường xuyên đến thăm bà ngoại còn bố tôi thì rất hiếm khi, dù nhà bà ngoại cách nhà bố mẹ tôi chưa đến 200 mét. Sau này, cậu Keo kể tôi nghe rằng ngay cả ngày
cưới bố mẹ tôi, bà ngoại cũng không đến dự đám cưới tại nhà bố tôi mà chỉ tiếp nhận lễ dâng trà tại nhà của dì Lek - con gái lớn của ông bà ngoại. Nghĩ lại chuyện này, tôi vẫn ngạc nhiên và không lý giải được.
Ông ngoại mất năm 1948, khi tôi chưa chào đời, nên tất cả những gì tôi biết về ông là nhờ mẹ và cậu Keo - em của mẹ, kể lại. Ông ngoại là người Thái gốc Hoa, được sinh ra tại Thái Lan, trưởng thành tại Trung Quốc. Người vợ đầu của ông là người Trung Quốc, có 4 người con. Sau khi trở lại Thái Lan, ông mới kết hôn với bà ngoại tôi. Ông chăm chỉ trồng rau, trái cây và thuốc lá. Dù có nhiều đất đai nhưng thu hoạch từ trồng trọt không là bao, đôi khi thiếu gạo phải ăn cơm độn khoai lang, khoai môn.
* Vương triều hùng mạnh ở Thái Lan, tồn tại trong 150 năm (1782 – 1932).
******************* Đón đọc phần tiếp theo Những người bạn thời thơ ấu







